Dịch Truyện Kiều: Lan tỏa giá trị kiệt tác văn học Việt Nam ra thế giới

Đến nay, Truyện Kiều đã được chuyển ngữ sang khoảng 20 ngôn ngữ với gần 80 bản dịch khác nhau, trong đó các ngôn ngữ như Anh, Pháp, Trung, Nhật, Hàn có nhiều bản nhất.

Chiều 22/11, Sở VH-TT&DL Hà Tĩnh phối hợp với Quỹ Bảo tồn và Phát huy giá trị di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều tổ chức tọa đàm khoa học “Dịch Truyện Kiều”.

Tham dự tọa đàm có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Nguyệt; các học giả, nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu, nhà thơ, nhà văn trong và ngoài nước, cùng hội viên Hội Kiều học Việt Nam tại Hà Tĩnh.

Giáo sư, Tiến sỹ Trần Nho Thìn (Đại học Quốc gia Hà Nội), ông Hà Văn Thạch - Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều; Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL Nguyễn Công Thành cùng chủ trì tọa đàm.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Thị Nguyệt cùng các đại biểu tham dự tọa đàm.

Buổi tọa đàm có sự tham dự của nhiều học giả hàng đầu trong và ngoài nước.

Đề dẫn tọa đàm, ông Hà Văn Thạch - Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều nhấn mạnh: Dịch Truyện Kiều là hành trình gian nan nhưng đầy ý nghĩa. Mỗi bản dịch, dù hoàn chỉnh hay chưa trọn vẹn, đều là cánh cửa lan tỏa Truyện Kiều ra độc giả quốc tế, đưa văn học, văn hóa Việt Nam kết nối, hội nhập với văn hóa nhân loại, góp phần làm sáng hơn giá trị nhân văn và tư tưởng lớn của Đại thi hào Nguyễn Du.

Đến nay, Truyện Kiều đã được chuyển ngữ sang khoảng 20 ngôn ngữ với gần 80 bản dịch khác nhau, trong đó các ngôn ngữ như Anh, Pháp, Trung, Nhật, Hàn có nhiều bản nhất.

Ông Hà Văn Thạch - Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Bảo tồn và phát huy giá trị di sản Nguyễn Du và Truyện Kiều phát biểu đề dẫn tọa đàm.

Tại tọa đàm, các học giả và dịch giả trong nước, quốc tế đã trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp chuyển tải vẻ đẹp tinh tế của thơ lục bát, đồng thời thảo luận những hướng nghiên cứu mới để lan tỏa sâu hơn giá trị của Truyện Kiều trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Đặc biệt, GS. John Stauffer (nguyên Quyền Trưởng khoa Anh Văn Đại học Harvard - Hoa Kỳ), GS. Paul Hoover (nguyên Quyền Trưởng khoa Viết sáng tạo Đại học San Francisco - Hoa Kỳ) và nhà thơ, dịch giả Nguyễn Đỗ - thành viên dự án dịch Truyện Kiều sang tiếng Anh phiên bản mới, đã chia sẻ hành trình “dịch để sống lại” bằng tiếng Anh. Mục tiêu là giữ vẻ đẹp đa tầng, nhạc tính và tinh thần Việt của kiệt tác của Đại thi hào Nguyễn Du trong không gian tiếng Anh đương đại.

GS. Paul Hoover (Hoa Kỳ) chia sẻ về hành trình dịch Truyện Kiều sang tiếng Anh.

Dịch giả Nguyễn Đỗ cho rằng, Truyện Kiều là “đỉnh cao ngôn từ khó dịch”, để chạm tới hồn thơ Kiều, người dịch phải thấm nhuần chữ Nôm – tiếng Việt cổ, có cảm quan thi ca và năng lực tiếng Anh – Mỹ tinh tế. AI có thể dịch nghĩa, nhưng không thể dịch thơ. Không có trải nghiệm sống, không có cảm xúc, công cụ sẽ không thể tái tạo tinh thần tác phẩm.

Nhà thơ – dịch giả Nguyễn Đỗ trao đổi về những thách thức trong dịch thuật Truyện Kiều.

Tọa đàm khoa học “Dịch Truyện Kiều” được đánh giá là hoạt động ý nghĩa trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 260 năm ngày sinh Danh nhân văn hóa thế giới – Đại thi hào Nguyễn Du (1765–2025) và 205 năm ngày mất của ông. Sự kiện không chỉ tri ân Đại thi hào, mà còn khẳng định sức sống bền bỉ và giá trị toàn cầu của Truyện Kiều, viên ngọc sáng trong kho tàng văn học Việt Nam, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế.

Trước đó, tại Di tích Quốc gia đặc biệt Khu lưu niệm Nguyễn Du, các đại biểu đã đến dâng hoa, dâng hương ở mộ phần và linh điện Đại thi hào, tưởng nhớ công lao và những đóng góp to lớn của Đại thi hào Nguyễn Du đối với dân tộc cũng như nền văn học Việt Nam và cả thế giới.

Các đại biểu đã đến dâng hương tại Khu mộ Đại thi hào Nguyễn Du.

Theo BHT

Link: https://baohatinh.vn/dich-truyen-kieu-lan-toa-gia-tri-kiet-tac-van-hoc-viet-nam-ra-the-gioi-post299831.html

Xem nhiều nhất

Đại thi hào Nguyễn Du - người của miền dân dã

Kỷ niệm 260 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du 26/11/2025

Nhớ lại những ngày được tham gia một số cảnh quay trong bộ phim “Đại thi hào Nguyễn Du”, chị Nguyễn Thị Nguyệt - giáo viên Trường Mầm non Kim Song Trường (xã Trường Lưu) chia sẻ: “Dịp ấy, mấy chị em trong CLB Dân ca ví, giặm của xã được đoàn phim mời đóng cảnh cậu Chiêu Bảy (tức Nguyễn Du) đến Trường Lưu hát ví phường vải. Tôi vào vai o Uy, hát đối đáp với người đóng vai Nguyễn Du. Dù chỉ là cảnh phim tái hiện giai thoại, nhưng tôi cảm nhận rõ con người của Đại thi hào - một người con nhà quan lớn mà lại gần gũi, thấu hiểu, thương những cô gái phường vải nghèo như o Uy, o Sạ ngày xưa”.Chị Nguyễn Thị Nguyệt (người thứ 2 từ trái sang, đóng vai o Uy) cùng diễn viên thủ vai Nguyễn Du và CLB Dân ca ví, giặm Trường Lưu sau một cảnh quay phim "Đại thi hào Nguyễn Du"Câu chuyện chị Nguyệt kể là một trong nhiều giai thoại dân gian về thời kỳ Nguyễn Du sống tại quê nội Tiên Điền - quãng đời đã hun đúc nên chất “người dân dã” trong tâm hồn ông.Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, trong gia đình quan đại thần triều đình nhà Lê. Cha ông là Tể tướng Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm. Năm 18 tuổi, ông đỗ thi Hương, ra làm quan võ, rồi gặp biến động thời thế, triều Lê sụp đổ, ông về ẩn cư quê vợ ở Thái Bình. Từ năm 1796-1802, Nguyễn Du trở lại Tiên Điền sinh sống. Đây là quãng thời gian ông gần gũi nhất với người dân quê, sống chan hòa với người bình dân vùng đất Hồng Lam.Học sinh Trường THPT Nguyễn Du hóa thân vào nhân vật Truyện Kiều trong khu vườn gia tộc họ Nguyễn ở Tiên Điền nay là Khu di tích Nguyễn Du - nơi Đại thi hào từng sống từ năm 1796-1802Theo nhiều tư liệu và giai thoại dân gian, khi về quê, Nguyễn Du không giữ nếp sống quý tộc mà hòa mình với cuộc sống thôn quê. Ông thường ghé phường nón, phường vải để trò chuyện, hiểu nỗi nhọc nhằn của dân; cùng ngư dân làng chài dong thuyền ra biển; theo phường săn lên núi Hồng Lĩnh, ngao du khắp 99 đỉnh non Hồng.Bà Trần Thị Vinh - Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Khu di tích Nguyễn Du, người có nhiều năm nghiên cứu về cuộc đời Đại thi hào cho biết: “Trong xã hội phong kiến, hiếm có ai như cụ Nguyễn Du. Dù xuất thân từ tầng lớp thượng lưu, nhưng về sống ở Tiên Điền, cụ lại bình dị đến lạ. Nhiều bậc cao niên họ Nguyễn kể lại, cụ đi đâu cũng áo nâu, nón lá, khi thì đến tận ruộng xem dân gặt lúa, lúc lại theo phường săn lên núi Hồng, sang Trường Lưu hát ví phường vải… Dân quý cụ vì cụ sống như người làng, không hề kiểu cách, quan quyền như bao người cùng tầng lớp”.Bà Trần Thị Vinh - Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Khu di tích Nguyễn Du.Chính sự hòa mình ấy đã cho Nguyễn Du những trải nghiệm sống sâu sắc, để rồi mỗi trang thơ, mỗi câu chữ trong “Truyện Kiều”, “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Thác lời trai phường nón” hay “Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”… đều thấm đẫm hơi thở cuộc đời.Nhiều học giả khi nghiên cứu tác phẩm của ông đã phát hiện nhiều hình ảnh, địa danh, điển tích trong thơ Nguyễn Du đều gắn với vùng đất Nghi Xuân. Những câu thơ trong Truyện Kiều như: “Buồn trông cửa bể chiều hôm/Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa…” hay “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia…” được khẳng định là xuất phát từ cảnh thật của quê hương ông. Chỉ có người từng sống chan hòa với đất, với người, từng đi đến và ghi khắc trong tâm từng bờ ruộng, từng lối sông mới có thể diễn tả được tinh tế đến thế.“Hồng Sơn liệt chướng”- núi Hồng Lĩnh nhìn từ phía làng Tiên Điền, một trong "Nghi Xuân bát cảnh" (8 cảnh đẹp Nghi Xuân) từng ghi dấu những bước chân Đại thi hào Nguyễn Du thời tuổi trẻ.Hòa nhập với người dân quê không chỉ giúp Nguyễn Du gần gũi phong tục, tập quán mà còn khiến ông thấu cảm sâu sắc nỗi cơ cực của những phận người bé nhỏ trong xã hội phong kiến. Ông không nhìn họ bằng ánh mắt thương hại, mà bằng sự đồng cảm, thấu hiểu, bởi ông từng sống như họ, ăn như họ, chia sẻ buồn vui cùng họ.Chính vì thế, giá trị nhân đạo trong thơ Nguyễn Du là sự kết tinh từ nhân cách sống. Như nhiều học giả nhận định: Tình thương trong Truyện Kiều và nhiều tác phẩm của ông không chỉ là cảm xúc nghệ thuật, mà là kết tinh nhân cách của Nguyễn Du - một người từng sống, từng ăn, từng chia sẻ với người dân nghèo. Hòa vào cuộc sống của họ, ông không nhìn bằng con mắt thương hại, mà bằng sự thấu hiểu, đồng cảm. Có lẽ, cũng từ tâm thế ấy, Nguyễn Du đã vượt ra khỏi mọi giới hạn của địa vị, giai tầng trong ứng xử với đời.Những ngày sống ở quê cha Tiên Điền, hòa mình vào đời sống của những người dân miền thôn dã...... đã giúp Đại thi hào Nguyễn Du hun đúc nên trái tim nhân đạo.2 thế kỷ đã qua, bóng dáng người con Tiên Điền giản dị, áo nâu nón lá vẫn như còn đâu đây trong những câu hát ví phường vải, trong áng mây bay qua đỉnh núi Hồng và cả những tiếng sóng dòng Lam. Trong tâm thức người dân quê hương, Nguyễn Du không chỉ là Đại thi hào của dân tộc, mà còn là “người của miền dân dã”, người đã từng sống giữa dân, hiểu dân và để lại cho muôn đời di sản nhân văn vô giá.