Truyện Kiều trong tâm thức người Việt

Từ quê hương Hà Tĩnh, Truyện Kiều của Nguyễn Du đã trở thành sợi dây nối người Việt qua bao thế hệ, trong lời ru, câu hát, trong ký ức và trong cả cách ta yêu thương, cống hiến hôm nay.

Không phải ngẫu nhiên mà giữa muôn vàn tác phẩm văn học, Truyện Kiều lại có một chỗ đứng đặc biệt đến thế trong tâm hồn người Việt. Từ lời ru thuở nằm nôi, đến câu lẩy Kiều trong đối đáp hằng ngày, từ điệu ngâm ngân nga nơi phố thị cho đến tiếng Kiều vọng lại bên triền sông La, bên nương bãi Tiên Điền, Nguyễn Du và tác phẩm để đời của ông như đã hóa thành một mạch nguồn văn hóa chảy xuyên suốt 3 miền đất nước.

6f9e85b833d6bf88e6c7.jpg

Ở Hà Tĩnh, nhiều đứa trẻ đã lớn lên trong những câu ru Kiều của bà. Minh hoạ

 

Thưở ấu thơ, tôi từng nghe bà nội đọc Kiều, lẩy Kiều, hát ru Kiều. Bà không biết chữ nhưng thuộc hàng trăm câu thơ, ngâm nga say sưa mỗi khi làm việc hoặc liên hệ một câu trong Truyện Kiều khi dạy cháu một điều gì đó. Lời bà khi ấy đâu chỉ là thơ mà là đạo lý, là kinh nghiệm làm người được chắt lọc qua bao thế hệ. Cứ thế, tôi lớn lên cùng nhịp điệu Kiều, như thể tiếng Kiều đã hòa vào hơi thở quê nhà, vào từng mùa lúa, mùa trăng, vào từng bước chân tôi ra đồng, ra sông, vào từng ước mơ nhỏ khi tôi đến trường v.v…

Có lẽ ở Hà Tĩnh, dường như ai cũng có trong mình một ký ức như thế. Người thuộc ít, người thuộc nhiều, nhưng đều coi Truyện Kiều như hơi thở của quê hương. Từ những lời ru của mẹ, điệu ví, câu hò, đến các hội thi lẩy Kiều, ngâm Kiều ở Nghi Xuân (cũ)… tất cả khiến tác phẩm của Nguyễn Du không còn chỉ là tác phẩm văn chương, mà đã trở thành một phần đời sống, một phần tâm hồn.

55.jpg

Truyện Kiều được tái hiện trong loại hình cải lương ở miền Nam. Ảnh Internet

 

Đâu chỉ ở Hà Tĩnh, Truyện Kiều và những giá trị có trong đó đã được người dân Việt Nam đón nhận, yêu thích, phát triển và bảo tồn. Từ Bắc vào Nam, Truyện Kiều hiện diện trong nhiều dạng thức khác nhau của hình thức diễn xướng dân gian trò Kiều: ở miền Bắc có hát ru Kiều, bói Kiều; miền Trung có ngâm Kiều, ví Kiều, xẩm Kiều; miền Nam lại có hát bội, cải lương Kiều. Ở đâu có người Việt, ở đó có Kiều. Không chỉ là tác phẩm văn học, Truyện Kiều đã trở thành “ngôn ngữ văn hóa”, nơi con người gửi gắm tâm tư, triết lý sống và nhân sinh quan.

Có lẽ vì thế mà Truyện Kiều luôn là mạch nguồn thôi thúc bao thế hệ nghệ sĩ, học giả tìm tòi và sáng tạo. Trong số đó, câu chuyện của diễn viên – nhà sản xuất Mai Thu Huyền là một minh chứng đẹp. Vốn yêu truyện Kiều từ nhỏ và luôn ấp ủ ý định làm phim về Kiều. Và năm 2018, trong một lần ghé thăm Di tích Nguyễn Du, biết được năm 2020 sẽ kỷ niệm 255 năm ngày sinh của cụ, chị đã quyết định đầu tư sản xuất phim điện ảnh Kiều, với mong muốn chuyển tải tinh thần nhân văn và chiều sâu của Truyện Kiều đến khán giả đương đại.

bqbht_br_2.jpg

Đoàn làm phim Kiều chụp ảnh lưu niệm với đoàn học sinh Hà Tĩnh tại Di tích Nguyễn Du năm 2021. Ảnh tư liệu

 

Phim Kiều sau đó không kịp ra mắt như dự định và khi ra mắt không quá nổi tiếng do ảnh hưởng dịch Covid-19 nhưng rõ ràng đó là một minh chứng cho việc truyện Kiều là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ nghệ sỹ.

Sự lan toả của truyện Kiều và ý thức bảo tồn, phát huy các giá trị của di sản đó trong tâm thức người Việt còn được khẳng định trong những việc làm ý nghĩa của những người con xa quê. Câu chuyện người con Hà Tĩnh - nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Thị Sông Hương (ở Pháp) - miệt mài với hành trình âm thầm: sưu tầm và hệ thống hàng chục bản dịch Truyện Kiều ở khắp thế giới lại để lại nỗi xúc động sâu sắc.

Xuất thân từ làng Thạch Đài (cũ), nay là phường Hà Huy Tập, tuổi thơ của chị được ru trong câu Kiều của mẹ, của bà. Mang ký ức ấy theo hành trang du học, chị tìm đến các thư viện, viện ngôn ngữ, kho lưu trữ châu Âu, lần theo dấu vết những bản dịch hiếm, có bản đã xuất hiện hơn một thế kỷ để sưu tầm, khảo cứu các tài liệu để chứng minh sự lan toả của truyện Kiều.

bqbht_br_image.png

Một góc sưu tầm những bản dịch Truyện Kiều của chị Sông Hương tại Pháp.

 

Giữa Paris, chị từng mở một triển lãm nhỏ về các bản dịch Truyện Kiều bằng hơn 20 thứ tiếng. Những trang sách cũ, ngả màu thời gian, lại kể câu chuyện mới: về hành trình của Nguyễn Du từ làng Tiên Điền đến thế giới. Với chị, đó không chỉ là công việc nghiên cứu, mà là một cách để kéo Kiều trở trở lại với nhân loại - để Kiều không còn là câu chuyện riêng của người Việt, mà là câu chuyện về nhân tính, về sự cảm thông giữa con người với con người.

Qua thời gian, Kiều đã vượt ra khỏi khuôn khổ văn chương để trở thành một biểu tượng văn hóa dân tộc. Trong các lễ hội ở Nghi Xuân (cũ), người dân vẫn ngâm Kiều, hát Kiều, thi lẩy Kiều như một cách tri ân tiền nhân. Nhiều trường học đưa các hình thức diễn xướng về Kiều vào tiết học trải nghiệm; những người trẻ lại tìm thấy ở Kiều những thông điệp về nhân bản, về sự bao dung, về niềm tin vào cái thiện.

bqbht_br_3.jpg

Du khách hào hứng với tiết mục Trò Kiều tại sân khấu nhỏ trong khuôn viên Di tích Nguyễn Du.

 

Tại các hội thảo về Nguyễn Du, nhiều nhà nghiên cứu đồng tình với quan điểm: “Người Việt có thể quên tên tác giả của nhiều tác phẩm nhưng không thể quên Nguyễn Du. Vì trong tâm thức, Nguyễn Du là người nói hộ nỗi lòng của dân tộc mình”.

Từ những người nông dân bên bờ sông Lam, đến các nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, đạo diễn… ai cũng có thể tìm thấy phần mình trong Kiều. Bởi Truyện Kiều không chỉ kể về số phận một người con gái, mà là câu chuyện về con người Việt Nam: chịu đựng, nhân hậu, kiên cường và luôn tin vào điều thiện. Và như học giả Phạm Quỳnh từng khẳng định hơn một thế kỷ trước: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn.” Câu nói ấy đến nay vẫn như một lời thề văn hóa, khẳng định sức sống của tiếng Việt, của hồn dân tộc được kết tinh trong từng vần thơ Kiều.

Hơn hai trăm năm trôi qua nhưng mỗi lần mở lại Kiều, ta vẫn thấy lòng mình rung động. Những câu thơ tưởng đã cũ, vẫn soi chiếu được tâm thế con người hôm nay. Từ Tiên Điền, truyện Kiều đã bước ra thế giới, và trở lại trong tâm thức người Việt bằng một vị thế rất riêng – di sản của tâm hồn, ký ức của dân tộc.

Xem nhiều nhất

Đại thi hào Nguyễn Du - người của miền dân dã

Kỷ niệm 260 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du 26/11/2025

Nhớ lại những ngày được tham gia một số cảnh quay trong bộ phim “Đại thi hào Nguyễn Du”, chị Nguyễn Thị Nguyệt - giáo viên Trường Mầm non Kim Song Trường (xã Trường Lưu) chia sẻ: “Dịp ấy, mấy chị em trong CLB Dân ca ví, giặm của xã được đoàn phim mời đóng cảnh cậu Chiêu Bảy (tức Nguyễn Du) đến Trường Lưu hát ví phường vải. Tôi vào vai o Uy, hát đối đáp với người đóng vai Nguyễn Du. Dù chỉ là cảnh phim tái hiện giai thoại, nhưng tôi cảm nhận rõ con người của Đại thi hào - một người con nhà quan lớn mà lại gần gũi, thấu hiểu, thương những cô gái phường vải nghèo như o Uy, o Sạ ngày xưa”.Chị Nguyễn Thị Nguyệt (người thứ 2 từ trái sang, đóng vai o Uy) cùng diễn viên thủ vai Nguyễn Du và CLB Dân ca ví, giặm Trường Lưu sau một cảnh quay phim "Đại thi hào Nguyễn Du"Câu chuyện chị Nguyệt kể là một trong nhiều giai thoại dân gian về thời kỳ Nguyễn Du sống tại quê nội Tiên Điền - quãng đời đã hun đúc nên chất “người dân dã” trong tâm hồn ông.Nguyễn Du sinh năm 1765 tại Thăng Long, trong gia đình quan đại thần triều đình nhà Lê. Cha ông là Tể tướng Xuân Quận công Nguyễn Nghiễm. Năm 18 tuổi, ông đỗ thi Hương, ra làm quan võ, rồi gặp biến động thời thế, triều Lê sụp đổ, ông về ẩn cư quê vợ ở Thái Bình. Từ năm 1796-1802, Nguyễn Du trở lại Tiên Điền sinh sống. Đây là quãng thời gian ông gần gũi nhất với người dân quê, sống chan hòa với người bình dân vùng đất Hồng Lam.Học sinh Trường THPT Nguyễn Du hóa thân vào nhân vật Truyện Kiều trong khu vườn gia tộc họ Nguyễn ở Tiên Điền nay là Khu di tích Nguyễn Du - nơi Đại thi hào từng sống từ năm 1796-1802Theo nhiều tư liệu và giai thoại dân gian, khi về quê, Nguyễn Du không giữ nếp sống quý tộc mà hòa mình với cuộc sống thôn quê. Ông thường ghé phường nón, phường vải để trò chuyện, hiểu nỗi nhọc nhằn của dân; cùng ngư dân làng chài dong thuyền ra biển; theo phường săn lên núi Hồng Lĩnh, ngao du khắp 99 đỉnh non Hồng.Bà Trần Thị Vinh - Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Khu di tích Nguyễn Du, người có nhiều năm nghiên cứu về cuộc đời Đại thi hào cho biết: “Trong xã hội phong kiến, hiếm có ai như cụ Nguyễn Du. Dù xuất thân từ tầng lớp thượng lưu, nhưng về sống ở Tiên Điền, cụ lại bình dị đến lạ. Nhiều bậc cao niên họ Nguyễn kể lại, cụ đi đâu cũng áo nâu, nón lá, khi thì đến tận ruộng xem dân gặt lúa, lúc lại theo phường săn lên núi Hồng, sang Trường Lưu hát ví phường vải… Dân quý cụ vì cụ sống như người làng, không hề kiểu cách, quan quyền như bao người cùng tầng lớp”.Bà Trần Thị Vinh - Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Khu di tích Nguyễn Du.Chính sự hòa mình ấy đã cho Nguyễn Du những trải nghiệm sống sâu sắc, để rồi mỗi trang thơ, mỗi câu chữ trong “Truyện Kiều”, “Văn tế thập loại chúng sinh”, “Thác lời trai phường nón” hay “Văn tế sống 2 cô gái Trường Lưu”… đều thấm đẫm hơi thở cuộc đời.Nhiều học giả khi nghiên cứu tác phẩm của ông đã phát hiện nhiều hình ảnh, địa danh, điển tích trong thơ Nguyễn Du đều gắn với vùng đất Nghi Xuân. Những câu thơ trong Truyện Kiều như: “Buồn trông cửa bể chiều hôm/Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa…” hay “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia…” được khẳng định là xuất phát từ cảnh thật của quê hương ông. Chỉ có người từng sống chan hòa với đất, với người, từng đi đến và ghi khắc trong tâm từng bờ ruộng, từng lối sông mới có thể diễn tả được tinh tế đến thế.“Hồng Sơn liệt chướng”- núi Hồng Lĩnh nhìn từ phía làng Tiên Điền, một trong "Nghi Xuân bát cảnh" (8 cảnh đẹp Nghi Xuân) từng ghi dấu những bước chân Đại thi hào Nguyễn Du thời tuổi trẻ.Hòa nhập với người dân quê không chỉ giúp Nguyễn Du gần gũi phong tục, tập quán mà còn khiến ông thấu cảm sâu sắc nỗi cơ cực của những phận người bé nhỏ trong xã hội phong kiến. Ông không nhìn họ bằng ánh mắt thương hại, mà bằng sự đồng cảm, thấu hiểu, bởi ông từng sống như họ, ăn như họ, chia sẻ buồn vui cùng họ.Chính vì thế, giá trị nhân đạo trong thơ Nguyễn Du là sự kết tinh từ nhân cách sống. Như nhiều học giả nhận định: Tình thương trong Truyện Kiều và nhiều tác phẩm của ông không chỉ là cảm xúc nghệ thuật, mà là kết tinh nhân cách của Nguyễn Du - một người từng sống, từng ăn, từng chia sẻ với người dân nghèo. Hòa vào cuộc sống của họ, ông không nhìn bằng con mắt thương hại, mà bằng sự thấu hiểu, đồng cảm. Có lẽ, cũng từ tâm thế ấy, Nguyễn Du đã vượt ra khỏi mọi giới hạn của địa vị, giai tầng trong ứng xử với đời.Những ngày sống ở quê cha Tiên Điền, hòa mình vào đời sống của những người dân miền thôn dã...... đã giúp Đại thi hào Nguyễn Du hun đúc nên trái tim nhân đạo.2 thế kỷ đã qua, bóng dáng người con Tiên Điền giản dị, áo nâu nón lá vẫn như còn đâu đây trong những câu hát ví phường vải, trong áng mây bay qua đỉnh núi Hồng và cả những tiếng sóng dòng Lam. Trong tâm thức người dân quê hương, Nguyễn Du không chỉ là Đại thi hào của dân tộc, mà còn là “người của miền dân dã”, người đã từng sống giữa dân, hiểu dân và để lại cho muôn đời di sản nhân văn vô giá.