Chủ động phát hiện, ngăn chặn và xử lý xung đột thông tin trên không gian mạng
Nghị định số 343/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm, biện pháp và cơ chế phối hợp trong tiếp nhận, xử lý, chặn lọc, khắc phục và loại trừ xung đột thông tin trên không gian mạng. Các quy định mới góp phần nâng cao khả năng chủ động ứng phó với nguy cơ trên không gian mạng, bảo vệ quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia và hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 343/2026/NĐ-CP ngày 3/9/2026 quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng và ngăn chặn xung đột thông tin trên không gian mạng. Nghị định có hiệu lực từ ngày 3/9/2026.
Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là việc thiết lập cơ chế xử lý tương đối đầy đủ đối với xung đột thông tin trên không gian mạng, từ giám sát, phát hiện, cảnh báo, xác định nguồn gốc đến chặn lọc, khắc phục và loại trừ.
Theo quy định, ngăn chặn xung đột thông tin trên mạng là việc áp dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm giám sát, phát hiện, cảnh báo, xác định nguồn gốc và xử lý các nguồn thông tin gây xung đột. Đây là cơ sở để các cơ quan, đơn vị và lực lượng chuyên trách chủ động ứng phó khi xuất hiện những tình huống có nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thông tin, quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Chủ quản hệ thống thông tin phải chủ động tiếp nhận, xử lý
Nghị định xác định chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm trực tiếp tiếp nhận, xử lý xung đột thông tin xảy ra trong phạm vi quản lý. Khi phát sinh sự cố hoặc tình huống phức tạp, chủ quản hệ thống phải phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng để tổ chức ứng cứu, xử lý và thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm hạn chế tác động.
Đối với những xung đột thông tin có yếu tố liên quan giữa tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có trách nhiệm tiếp nhận, phân tích và tổ chức xử lý theo phạm vi, thẩm quyền được quy định.
Quy định này đặt ra yêu cầu các cơ quan, tổ chức không chỉ đầu tư cho giải pháp kỹ thuật mà còn phải chủ động xây dựng phương án ứng phó, bố trí đầu mối và chuẩn bị quy trình phối hợp khi xuất hiện tình huống trên không gian mạng.
Chặn lọc phải đúng thẩm quyền, đúng đối tượng
Chặn lọc thông tin là một trong những biện pháp được Nghị định quy định cụ thể. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet thực hiện chặn lọc khi xác định được nguồn gốc xung đột thông tin gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; khi yêu cầu của bên bị ảnh hưởng được xác định là có căn cứ; hoặc khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.
Đáng chú ý, việc chặn lọc phải bảo đảm đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và không làm ảnh hưởng đến hoạt động hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là nguyên tắc quan trọng trong quá trình áp dụng các giải pháp kỹ thuật nhằm xử lý xung đột thông tin.
Việc thực hiện biện pháp chặn lọc vì vậy phải gắn với quá trình xác minh, đánh giá tình hình và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, tránh tác động không cần thiết tới các hoạt động thông tin bình thường trên môi trường mạng.
Chủ động xây dựng phương án khắc phục xung đột thông tin
Đối với hoạt động khắc phục, chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm tổ chức xử lý các xung đột thuộc phạm vi quản lý, đồng thời chịu sự điều hành của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng trong những trường hợp theo quy định.
Các cơ quan, đơn vị phải chủ động xây dựng phương án khắc phục phù hợp; sau quá trình xử lý, có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo tình hình và kết quả với lực lượng chuyên trách.
Biện pháp khắc phục được áp dụng khi xác định thực tế đã xảy ra xung đột thông tin; xung đột đó gây ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời có yêu cầu hoặc chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền đối với các vụ việc liên quan đến quốc phòng, an ninh.
Việc chuẩn bị sẵn phương án có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp giảm thời gian phản ứng, hạn chế nguy cơ sự cố lan rộng và bảo đảm duy trì hoạt động của hệ thống thông tin khi phát sinh tình huống.
Phối hợp loại trừ nguồn gây xung đột
Ở mức độ xử lý cao hơn, các lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng chịu trách nhiệm thực hiện việc loại trừ xung đột thông tin; doanh nghiệp viễn thông, Internet có trách nhiệm phối hợp và triển khai các biện pháp kỹ thuật theo yêu cầu.
Việc loại trừ được thực hiện khi xác định rõ nguồn gốc xung đột; có đủ nhân lực, giải pháp công nghệ, kỹ thuật và biện pháp cần thiết; đồng thời thực hiện thông báo đến tổ chức, cá nhân có liên quan đối với nguồn thông tin gây xung đột.
Quy trình này cho thấy việc xử lý không chỉ tập trung ở khâu ứng phó sau khi sự cố đã xảy ra mà còn hướng tới xác định chính xác nguồn gây tác động, phối hợp nhiều biện pháp để xử lý tận gốc.
Tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và doanh nghiệp
Nghị định phân định tương đối rõ trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan. Bộ Quốc phòng chủ trì xử lý các vụ việc liên quan đến cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cá nhân và chức năng, nhiệm vụ thuộc phạm vi Bộ Quốc phòng; đồng thời phối hợp với Bộ Công an trong trường hợp liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
Bộ Công an chủ trì đối với các vụ việc liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và phối hợp với Bộ Quốc phòng khi có yếu tố quốc phòng.
Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp hướng dẫn, điều phối kỹ thuật và yêu cầu doanh nghiệp viễn thông, Internet thực hiện các biện pháp theo đề nghị của cơ quan có thẩm quyền. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp trong quản lý, chặn lọc, khắc phục và loại trừ thông tin xung đột trên báo chí, phát thanh, truyền hình và môi trường thông tin điện tử.
Bên cạnh trách nhiệm của cơ quan nhà nước, chủ quản hệ thống thông tin và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet phải chủ động phối hợp, thực hiện các biện pháp kỹ thuật, cung cấp thông tin, dữ liệu cần thiết phục vụ quá trình xử lý.
Việc triển khai Nghị định số 343/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện cơ chế phối hợp trong bảo vệ không gian mạng, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp trong phát hiện, ứng phó với xung đột thông tin. Đối với mỗi cơ quan, đơn vị, yêu cầu đặt ra là chủ động rà soát hệ thống, xây dựng phương án ứng cứu, duy trì đầu mối phối hợp và thường xuyên nâng cao năng lực bảo đảm an ninh mạng, qua đó góp phần xây dựng không gian mạng an toàn, ổn định và phục vụ hiệu quả hoạt động phát triển kinh tế - xã hội.